越喃

Lịch sử

Lịch sử chữ Nôm

Trước khi có chữ quốc ngữ, ông cha ta đã có một thứ chữ để viết tiếng Việt. Chữ Nôm được dùng gần một nghìn năm, ghi lại từ Truyện Kiều, thơ Hồ Xuân Hương cho tới gia phả, hương ước của từng làng. Bây giờ, số người đọc được nó chỉ còn rất ít.

Cái tên “Nôm”

Hai chữ “chữ Nôm” viết bằng chính chữ Nôm là 𡨸喃. Chữ 𡨸 (chữ) ghép từ 字 (tự, nghĩa là chữ) với 宁 (trữ) để gợi âm. Chữ 喃 (nôm) có bộ khẩu 口 bên trái, báo rằng chữ này đọc theo tiếng nói của người Việt, còn 南 (nam) bên phải cho biết cách đọc.

Nhiều người cho rằng “nôm” vốn là “nam”, tức tiếng nước Nam, để phân biệt với chữ Hán của phương Bắc. Cũng có cách hiểu “nôm” là nôm na, tức lời ăn tiếng nói hằng ngày.

Dòng thời gian

  1. Trước thế kỷ X

    Mượn chữ Hán để ghi tiếng mình

    Suốt thời Bắc thuộc, giấy tờ và sách vở đều viết bằng chữ Hán. Nhưng tên làng, tên núi, tên người Việt thì chữ Hán không có sẵn, nên người ta mượn những chữ có âm na ná để ghi lại. Danh hiệu “Bố Cái Đại Vương” mà dân chúng tôn Phùng Hưng cuối thế kỷ VIII hay được nhắc làm ví dụ: nhiều nhà nghiên cứu cho rằng “bố cái” ở đây là tiếng Việt, nghĩa là cha mẹ.

  2. 1210

    Những chữ Nôm trên bia đá

    Văn bia chùa Báo Ân, khắc năm 1210 đời Lý, thường được dẫn như một trong những di vật sớm nhất còn giữ được chữ Nôm. Trên bia có một số chữ dùng để ghi tên người, tên đất bằng tiếng Việt. Lúc này chữ Nôm mới xuất hiện lẻ tẻ, chưa ai dùng nó để viết thành bài.

  3. 1282

    Hàn Thuyên và bài văn đuổi cá sấu

    Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng năm 1282 có cá sấu xuất hiện ở sông Lô. Vua Trần Nhân Tông sai Thượng thư bộ Hình Nguyễn Thuyên làm bài văn ném xuống sông, cá sấu bỏ đi. Vua thấy chuyện giống Hàn Dũ bên Trung Quốc nên cho ông đổi sang họ Hàn. Sử chép thêm: ông giỏi làm thơ phú bằng “quốc ngữ”, nhiều người làm theo, thơ phú nước ta dùng tiếng Việt bắt đầu từ đó. “Quốc ngữ” lúc ấy chính là chữ Nôm, chưa phải chữ quốc ngữ ta dùng bây giờ.

  4. Thế kỷ XIII – XIV

    Văn Nôm thời Trần

    Cùng thời với Hàn Thuyên còn có Nguyễn Sĩ Cố, cũng nổi tiếng làm thơ phú Nôm. Bài Cư trần lạc đạo phú, tương truyền của Trần Nhân Tông, bàn chuyện tu Phật ngay giữa đời thường, là một trong những áng văn Nôm sớm nhất còn truyền lại. Cuối thế kỷ XIV, Hồ Quý Ly tự dịch thiên Vô Dật trong Kinh Thư ra chữ Nôm để dạy vua, lại soạn sách Thi nghĩa bằng Nôm. Chữ Nôm bắt đầu có chỗ trong việc học ở chốn cung đình.

  5. Thế kỷ XV

    Quốc âm thi tập

    Nguyễn Trãi để lại Quốc âm thi tập gồm 254 bài, tập thơ Nôm xưa nhất còn giữ được tới nay. Đọc lại vẫn thấy gần: ông viết về ao rau muống, về cây chuối, về những thứ quen thuộc ở quê nhà. Ít lâu sau, vua Lê Thánh Tông cùng các văn thần trong hội Tao Đàn xướng họa thơ Nôm, về sau được chép lại thành Hồng Đức quốc âm thi tập.

  6. Thế kỷ XVI – XVII

    Từ thơ nhà nho đến truyện kể và sách đạo

    Nguyễn Bỉnh Khiêm để lại Bạch Vân quốc ngữ thi. Cuối thế kỷ XVII có Thiên Nam ngữ lục, kể lịch sử nước ta bằng hơn 8.000 câu lục bát. Chữ Nôm còn theo các giáo sĩ phương Tây vào nhà thờ: linh mục Girolamo Maiorica soạn hàng chục cuốn sách đạo bằng chữ Nôm để giảng cho giáo dân. Cũng chính các giáo sĩ thời này bắt đầu ghi tiếng Việt bằng chữ cái Latinh, và năm 1651 cuốn từ điển Việt – Bồ – La của Alexandre de Rhodes được in ở Rome. Khi ấy chưa ai nghĩ thứ chữ ghi âm này về sau sẽ thay chỗ chữ Nôm.

  7. Thế kỷ XVIII

    Ngâm khúc, Hồ Xuân Hương và chiếu chỉ Tây Sơn

    Văn Nôm thời này nở rộ. Chinh phụ ngâm được diễn ra Nôm (người dịch thường được cho là Đoàn Thị Điểm, cũng có ý kiến cho là Phan Huy Ích), Nguyễn Gia Thiều viết Cung oán ngâm khúc, còn Hồ Xuân Hương làm những bài thơ Nôm táo bạo mà tới giờ nhiều người vẫn thuộc. Thời Tây Sơn, vua Quang Trung cho dùng chữ Nôm trong nhiều chiếu chỉ, lập Sùng chính viện và giao cho La Sơn Phu tử Nguyễn Thiếp lo việc dịch sách kinh điển chữ Hán ra chữ Nôm.

  8. Thế kỷ XIX

    Truyện Kiều

    Nguyễn Du viết Đoạn trường tân thanh, ta quen gọi là Truyện Kiều: 3.254 câu lục bát, toàn bộ bằng chữ Nôm. Ít tác phẩm nào sống trong dân gian được như Kiều. Người không biết chữ cũng thuộc, người ta lẩy Kiều, vịnh Kiều, bói Kiều. Giữa thế kỷ, ở Nam Bộ, Nguyễn Đình Chiểu viết Lục Vân Tiên, cũng bằng chữ Nôm, và truyện được truyền miệng khắp các vùng quê. Dù vậy, triều Nguyễn vẫn dùng chữ Hán là chính trong giấy tờ và thi cử.

  9. 1880 – 1919

    Chữ Nôm vắng dần

    Người Pháp đặt ách cai trị và đẩy mạnh chữ quốc ngữ Latinh, trước hết ở Nam Kỳ, nơi giấy tờ hành chính chuyển sang quốc ngữ từ những năm 1880. Đầu thế kỷ XX, chính các nhà nho yêu nước trong phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục cũng cổ vũ học quốc ngữ, vì nó dễ học và giúp mở mang dân trí nhanh hơn. Năm 1919, khoa thi Hội cuối cùng được tổ chức ở Huế. Không còn thi cử, chữ Hán và chữ Nôm thôi là con đường lập thân, người học thưa dần.

  10. Sau 1945

    Quốc ngữ thành chữ của mọi người

    Chữ quốc ngữ trở thành chữ viết chính thức, các lớp bình dân học vụ dạy hàng triệu người biết đọc biết viết. Đó là một thành tựu lớn. Có điều, chỉ sau vài thế hệ, chữ Nôm thành thứ chữ mà trong nhà gần như không ai đọc được nữa, kể cả khi nó nằm ngay trên bàn thờ.

  11. Hôm nay

    Những người vẫn đang giữ chữ

    Viện Nghiên cứu Hán Nôm ở Hà Nội đang lưu giữ hàng chục nghìn cuốn sách và thác bản văn bia. Các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã đưa hàng nghìn chữ Nôm vào bộ mã Unicode. Hội Bảo tồn Di sản Chữ Nôm (Vietnamese Nôm Preservation Foundation), lập năm 1999, làm ra bộ font Nôm Na Tống và số hóa nhiều sách cổ. Nhờ những việc ấy mà hôm nay chữ Nôm hiện được trên điện thoại, và một trang như VietNôm mới làm ra được.

Đọc thử một câu

Chữ Nôm ghi tiếng Việt ra sao

Đây là câu mở đầu Truyện Kiều. Mỗi tiếng là một chữ. Có chữ mượn thẳng của chữ Hán như 些 (ta). Có chữ được ghép mới như 𢆥 (năm): bên trái là 南 (nam) để gợi âm, bên phải là 年 (niên, nghĩa là năm) để gợi nghĩa. Bấm vào từng chữ để xem kỹ hơn.

Vì sao chữ Nôm gần như mất đi?

Chính sách thời Pháp thuộc chỉ là một phần lý do. Bản thân chữ Nôm cũng khó, và cái khó nằm ngay trong cách nó được tạo ra.

01

Phải biết chữ Hán trước

Chữ Nôm lấy chữ Hán làm vật liệu. Muốn đọc được chữ Nôm thì gần như phải biết một vốn chữ Hán kha khá, mà học chữ Hán đã mất nhiều năm.

02

Không có chuẩn chung

Chưa triều đại nào chuẩn hóa chữ Nôm. Cùng một tiếng, mỗi người, mỗi vùng, mỗi thời có thể viết một kiểu, nên đọc văn bản cổ nhiều khi phải đoán theo ngữ cảnh.

03

Ít khi là chữ của nhà nước

Trừ vài giai đoạn ngắn như thời Hồ hay Tây Sơn, giấy tờ triều đình và thi cử đều dùng chữ Hán. Chữ Nôm sống chủ yếu trong thơ văn và trong dân gian.

Chữ Nôm vẫn ở quanh ta

Không cần vào thư viện mới gặp chữ Nôm. Nhiều thứ quen thuộc ở quê vẫn viết bằng chữ Hán xen chữ Nôm. Ai lập ra làng, ông bà mình là ai, gốc gác ở đâu, phần lớn được ghi trong đó.

Khi không còn ai đọc được, những dòng chữ ấy chỉ còn là nét vẽ đẹp treo trên tường.

  • Câu đối, hoành phi trong đình, chùa, nhà thờ họ
  • Gia phả của dòng họ
  • Văn bia ở chùa, đình đầu làng
  • Hương ước, thần tích, sắc phong
  • Sách thuốc, sách bói, truyện thơ cũ

Bắt đầu từ đâu?

Không ai đòi bạn phải đọc thông Truyện Kiều bản Nôm. Mỗi việc nhỏ dưới đây đều có ích.

  1. Bước 1

    Đọc lại một câu thơ quen

    Gõ một câu Kiều bạn thuộc vào trang chuyển tự và xem nó viết bằng chữ Nôm. Thuộc lời rồi thì nhớ mặt chữ dễ hơn nhiều.

  2. Bước 2

    Hiểu chữ được ghép thế nào

    Phần lớn chữ Nôm có một phần gợi nghĩa và một phần gợi âm. Nắm được mấy cách tạo chữ này thì nhìn chữ lạ cũng đoán được phần nào.

  3. Bước 3

    Để ý chữ ở quanh mình

    Lần tới về quê, chụp lại câu đối ở nhà thờ họ hay cuốn gia phả cũ. Hỏi ông bà xem trong đó viết gì. Dù chưa đọc được, giữ lại một tấm ảnh rõ nét cũng đã là giúp những người sau.

  4. Bước 4

    Cài font chữ Nôm

    Cài font Nôm Na Tống để máy của bạn hiện được chữ Nôm ở mọi nơi, không chỉ trên trang này.

  5. Bước 5

    Góp một tay

    Thấy chữ sai, thiếu nghĩa hay biết một nguồn hay, gửi cho VietNôm. Từ điển nào cũng lớn lên từ những đóng góp nhỏ như vậy.

𡨸喃

Lần tới nhìn thấy hai chữ này mà nhận ra được, vậy là bạn đã bắt đầu rồi.